Đào Phi Phụng - Liễu Nguyệt Tâm: Chuyện tình éo le đến cùng cực

Nhà nghiên cứu tuồng Vũ Ngọc Liễn - ảnh: Hoa Khá

Đào Phi Phụng - Liễu Nguyệt Tâm:

Chuyện tình éo le đến cùng cực

Vũ Ngọc Liễn

Về nội dung tuy cùng mô-típ "Vua băng mệnh tiếm" như pho tuồng Sơn Hậu nhưng ở pho tuồng Đào Phi Phụng tác giả sử dụng mô-típ này làm bối cảnh xã hội nhằm trưng bày một bức tranh về tình yêu gắn chặt với số phận đất nước một chuyện tình éo le đến độ cùng cực hiếm thấy.

Pho tuồng Đào Phi Phụng dài bốn hồi.

Cũng như Sơn Hậu cho đến nay vẫn chưa biết được tác giả gốc là ai và cũng lưu hành khá nhiều dị bản. Tương truyền ngòi bút của Đào Tấn nhuận sắc khá mạnh tay ở hồi IV hồi chót của pho tuồng nhưng không có thông tin chi tiết nhuận sắc câu nào đoạn nào như trường hợp vở Sơn Hậu. 

    Bối cảnh lịch sử trong pho tuồng Đào Phi Phụng là câu chuyện xảy ra ở nước Lương cái vương triều mà cha con Đào Phi Phụng "tận trung báo chúa" là vua nước Lương. Cứ như lịch sử cổ đại Trung Quốc thì nước Lương xuất hiện vào thời Nam - Bắc Triều (CN 420 - 589). Nước Lương nằm ở khu vực phía Nam cùng một vệt với các vương triều: Tống Tề Trần. Nước Lương tồn tại 55 năm (502-557) tương đương với thời Tiền Lý Nam Đế ở Việt Nam. Trong 55 năm tồn tại nước Lương trải qua các triều vua: Võ đế Giản Văn đế Nguyên đế Kinh đế không rõ cha con Đào Phi Phụng sống và phụng sự triều vua nào? Có lẽ đây chỉ là cái cớ để tác giả vung bút như trường hợp nhà Tề trong Sơn Hậu chứ nước Lương nào mà có các địa danh:

"Bình Sơn hiến bửu

Hương thủy sinh quang"

(Núi Ngự Bình dâng báu

dòng sông Hương phát sáng)

(Bản diễn của hát Bội Bình Định)

Dù vậy cũng cần điểm qua đôi điều vừa nói để tiện bề đánh giá tác phẩm.

Một hiện tượng nghệ thuật nữa không thể bỏ qua là nịnh thần xuất hiện trong Đào Phi Phụng giống như trong Sơn Hậu đều là nịnh bầy nịnh lũ chứ không như các vở khác chỉ là nịnh đơn nịnh chiếc. Có điều ở Đào Phi Phụng thì rặt một nòi nịnh từ cha đến con còn ở Sơn Hậu thì nhân vật Tạ Nguyệt Kiểu (chị ruột của anh em họ Tạ) lại là người cùng họ mà khác nòi.

Chuyện kịch bắt đầu từ việc vua nước Lương trao hoàng tử cho Đào Lệnh công nuôi dạy để sau này kế vị. Và như chúng ta đều biết người kế vị là chuyện hệ trọng trong các triều đại phong kiến quyền lợi giữa các phe phái đều tùy thuộc vào khả năng bấu víu các "cục cưng" ấy.

Cát Thượng Nguyên cậy thế em vợ vua mà ngoi đến chức Thừa Tướng nước Lương đương nhiên ngôi thiên tử mới là điểm dừng chân của lão cho nên chuyện nhà vua trao quyền nuôi dạy hoàng tử cho Đào Lệnh công khiến Thượng Nguyên căm ghét họ Đào. Mối thù này là nguyên nhân dẫn đến nỗi éo le của chuyện tình Nguyệt Tâm - Phi Phụng.

Chẳng là năm ấy có giặc ở biên thùy. Nhà vua sai hai vị "tân khoa": Diệm Cửu Quỳ cầm quân "phạt Bắc" Đào Phi phụng (con Đào Lệnh công) cầm quân "chinh Đông". Diệm Cửu Quỳ chiến thắng giặc phía Bắc là Khắc Địch được phong tước Quốc Công; còn cuộc chiến "chinh Đông" của Đào Phi Phụng thì chiến thắng giặc Đông Liêu do Liễu Nguyệt Tâm (1) cầm quân bằng chiến thuật khá đặc biệt Đào Phi Phụng lấy Nguyệt Tâm làm vợ. Do vậy Cát Thượng Nguyên vớ lấy đó làm bằng chứng tâu với nhà vua rằng: ra trận kết hôn với giặc là có mưu đồ làm phản về sau. Thế rồi tội của con lây họa đến cha.

Tội trạng tội danh của Đào Phi Phụng còn đang cứu xét thì nhà vua đột ngột qua đời Cát Thượng Nguyên thừa cơ tiếm ngôi hạ ngục Đào Lệnh công truy bắt hoàng tử và Đào Phi Phụng. Diệm Cửu Quỳ con người chí hiếu đến mức từng mang lốt giả cọp để rình lấy sữa cọp đem về chữa bệnh cho mẹ (ở hồi I) cũng phải kéo quân sang Đông Ly hợp sức với hoàng tử và Liễu Nguyệt Tâm xây dựng lực lượng phục thù mà họ gọi là "khử tà bảo chánh". Còn Đào Phi Phụng thì sau khi biết tin cha lâm nạn bèn đơn thân lén về kinh cũ để tìm cách cứu cha.

Một số hình ảnh trong hồi IV của pho tuồng:

                               nghe thuat tuong

                                        Đào Phi Phụng trên đường về

                                ghé ngủ nhờ nơi cổ miếu thờ Quan Công - ảnh: Hoa Khá

                     

                                 Châu Thương (Sương) dùng râu của Quan Công

                                         kết cho Đào Phi Phụng - ảnh: Hoa Khá

                     

                             Châu Thương đã kết râu và so sánh sự giống nhau

                              giữa Quan Công và Đào Phi Phụng- ảnh: Hoa Khá

                      

                                Đào Phi Phụng qua một đêm ngủ ở cổ miếu

tỉnh dậy đã phát hiện mình có "mặt đỏ râu xanh" như Quan Công - ảnh: Hoa Khá

Hồi IV pho tuồng bắt đầu bằng nhân vật Đào Phi Phụng trên đường trở về kinh cũ ngủ qua đêm tại miếu thờ Quan công chàng thầm ước có được diện mạo như Quan công để tiện che mắt kẻ thù mới mong cứu được cha. Và chàng được toại nguyện. Lúc thức giấc Đào Phi Phụng có được mặt đỏ râu xanh như Quan Vân Trường thời Tam Quốc chàng bèn đổi tên họ thành Vạn Kim Chung đến thẳng Trường An thi đậu Trạng nguyên nhận sắc phong Nguyên Soái được Cát Thượng Nguyên tin dùng giao tù Đào công cho chàng xử lý. Đích thân Đào Phi Phụng mang ấn soái Vạn Kim Chung cầm quân ra trận đối diện với Liễu Nguyệt Tâm cử binh về hỏi tội Cát Thượng Nguyên. Vậy là cha con chồng vợ có cơ hội gặp nhau nhưng họ không thể nào nhìn nhận nhau được nếu không trải qua một cuộc trắc nghiệm bằng chính cuộc sống riêng tư của họ:

"Nguyệt Cầm: một hai ông cũng nói rằng ông chính là Đào Phi Phụng? ta hỏi…

(khách) - Túc kỷ niên canh Đào - Liễu giao oanh tằng ná xứ?

(Tuổi tác năm tháng và cái nơi mà họ Đào và họ Liễu kết duyên là ở đâu lúc nào?)

Vạn Chung: À nữ tướng hỏi ta lúc ta gặp nữ tướng là bao nhiêu tuổi năm tháng nào? Nơi chốn nào? Vậy thì nghe đây…

(khách) - Long môn thế nguyệt trận trung giao chiến phối lương duyên.

(Nơi cửa rồng tháng con thẻ (tức tháng Mẹo tháng 2) cùng ra trận rồi kết duyên)

Nguyệt Tâm: Ta lại hỏi nữa đây như chồng ta…

(Khách) - Cảnh thương hữu hắc tì

(trước cổ có vết đen)

vết tích ất nếu mà có thì ta mới tin…

Vạn Chung: Sao lại không…

Nguyệt Tâm: Còn nữa

Song chưởng tự đề phụ bật

(Hai bàn tay có hai chữ Phụ và Bật)

Vạn Chung: càng đúng

Nguyệt Tâm: nó đâu cho xem nào?

Thế rồi Vạn Chung lại vờ kiểm tra vết tích của vợ.

"Vạn Chung: (khách) - Bối trung lưu xích điểm lưỡng kiêm tự đính Trung Trinh.

(Sau lưng có chấm đỏ hai vai có hai chữ Trung và Trinh)"

Thực chất là Phi Phụng muốn bổ sung một sự thật khác nhằm xua tan mọi nghi ngờ của Liễu Nguyệt Tâm mà thôi.

                       

                                   Cảnh Liễu Nguyệt Tâm gặp Đào Lệnh Công (cha chồng)

                                   và Vạn Kim Chung (Đào Phi Phụng) - ảnh: Hoa Khá

Đọc và xem Đào Phi Phụng chúng ta bắt gặp một hiện tượng nghệ thuật tưởng chừng như trùng lặp giống nhau đó là sự kiện Đồng mẫu trong tuồng Sơn Hậu bị Tạ Thiên Lăng bắt cóc rồi treo trên mặt thành dùng lửa đốt dọa thiêu chết để buộc Đồng Kim Lân đầu hàng họ Tạ; với sự kiện Đào Lệnh công trong tuồng Đào Phi Phụng bị Cát Thượng Nguyên bắt giam rồi giao cho Vạn Kim Chung dọa giết để buộc Liễu Nguyệt Tâm đầu hàng. Vâng rất giống nhau về hiện tượng về mô-típ nghệ thuật nhưng lại rất khác nhau về bản chất của hành động kịch cho nên người xem muôn thuở dù đã thưởng thức miếng nghề ấy ở Sơn Hậu rồi vẫn không hề nhàm chán khi họ đến với Đào Phi Phụng bởi vì… chúng ta hãy lắng nghe nỗi lòng của cô con dâu mà ông lão Đào công chỉ mới nghe tên chứ chưa hề biết mặt:

"Nguyệt Tâm:

Nếu đầu giặc thì e lỗi đạo

Cãi lời cha cha ắt vong thân!

Thiên công hỡi Thiên công!

Phi Phụng ơi Phi Phụng!"

Đối diện với một tình cảnh cực kỳ khó xử ấy nàng còn bộc lộ nỗi lòng qua câu hát khách:

"Cát ngã can trường!

(Ruột gan tôi đứt từng đoạn)

Nay cha mắc vòng hoạn nạn ly tiết chí trung mần ri là cũng vì vợ chồng con…

Thiên cổ hận đạo kỳ nghị luận

(nỗi hận ngàn năm người ta sẽ bàn tán về một đạo lý)

rồi nàng xoay người căn dặn tướng sĩ:

(Khách) "Đãi ngô hiệu lệnh! Nhất thời nan thọ thử bi thê!".

(Hãy đợi lệnh ta trong giờ phút khó khăn này cam chịu nỗi đau buồn).

Tuy vẫn xoay quanh cái chủ đề muôn thuở về sự mâu thuẫn giữa Trung và Hiếu nhưng ở pho tuồng Đào Phi Phụng tập trung ở hồi IV tác giả rất thành công về mặt tạo hình nhân vật tâm lý và hành động nhân vật ngôn ngữ kịch diễn đạt chuyện kịch một cách hàm xúc và kết thúc kịch một cách đột ngột cơ đồ nhà Lương có khôi phục được hay không đó là tư duy của người xem sau khi rời sân khấu ra về.

 V. N. L

(1) Kịch bản lưu ở thư viện TP Hồ Chí Minh do Đại sứ Nữ hoàng vương quốc Anh gửi tặng Chính phủ VNCH năm 1971 chép là "Hạo Nguyệt Tâm" nghĩa là họ Hạo chứ không phải họ Liễu như bản diễn của hát Bội Bình Định

Hoa Khá

Trả lời

Mới coi tuồng Đào Phi Phụng về nghệ sĩ Minh Hải của đoàn Nguyễn Hiển Dĩnh (Quảng Nam)vào vai Liễu Nguyệt Tiêm hát rất ngọt! Đào của Quảng Nam rất trẻ trung và có triển vọng!
Viết bởi: tranhanam | April 29 2011 23:29
....
Cảm ơn anh ghé thăm và chia sẻ. Rất tiếc hôm đó Hoa Khá có việc riêng nên không đến xem dược vở tuồng này do đoàn Nguyễn Hiển Dĩnh thể hiện. Hoa Khá cũng nghe các đại biểu và bà con cũng tâm đắc và khen Đào này lắm. Chúc anh Nam sức khỏe nhé!

tranhanam

Mới coi tuồng Đào Phi Phụng về nghệ sĩ Minh Hải của đoàn Nguyễn Hiển Dĩnh (Quảng Nam)vào vai Liễu Nguyệt Tiêm hát rất ngọt! Đào của Quảng Nam rất trẻ trung và có triển vọng!

Hoa Khá

Trả lời

Mấy chục năm nay rồi không xem tuồng .Nhưng nay sau khi đọc bài trên thấy nhiều lý thú thật bữa nào cũng phải làm cái vé đi xem a hoakha ạ.Cám ơn anh nhé.
À giá mà anh kiếm được đoạn viddeo nào đưa lên kèm lời giói thiệu thì thật thích.
Viết bởi: Ngoc Du | April 19 2011 18:42
....
Cảm ơn anh Ngọc Du ghé thăm và chia sẻ với tình yêu bộ môn nghệ thuật tuồng. Gợi ý đưa đoạn viddeo tuồng của anh thật chí lý. Em sẽ cố gắng sưu tầm để giới thiệu cùng các bạn. Cảm ơn anh!
Chúc anh sức khỏe nhé!

Hoa Khá

Trả lời

Vào thăm anh và để lại lời bình. Bài viết phàn nào đã giúp người đọc hiểu rõ hơn một chuyện tình. Khi nào anh chuyển cho em mấy tấm nguyên tiêu với nhé
Viết bởi: Đặng Thiên Sơn | April 19 2011 16:27
....
Cảm ơn Thiên Sơn ghé thăm. Nhà mới của Sơn đẹp quá và rất ấn tượng nữa. Khá phải học tập "mô hình" để nghiên cứu thêm về giao diện của Sơn. Chúc vui nhiều nhé!

Hoa Khá

Trả lời

Nắng rớt qua đồi nên ngẩn ngơ
Thi nhân tao ngộ ý mong chờ
Người đi người tiễn lòng man mác
Một chút tình không. Một chút tơ...
Vui nha
Viết bởi: bienman | April 17 2011 10:03
.....
Cảm ơn anh Biển mặn ghé thăm. Sau chuyến đi Phú Yên về lo nhảy vào viết bài để "trả nợ tháng" cho Tạp chí Công đoàn. Nay xong việc rồi vào trả lời thư anh đây. Thông cảm nhé. Chúc anh vui nhiều!
Đã biết nhà anh là "người láng giềng" rồi em sẽ vào thăm anh tường xuyên hơn. Anh Ok chứ?

Ngoc Du

gửi a hoakha

Mấy chục năm nay rồi không xem tuồng .Nhưng nay sau khi đọc bài trên thấy nhiều lý thú thật bữa nào cũng phải làm cái vé đi xem a hoakha ạ.Cám ơn anh nhé.
À giá mà anh kiếm được đoạn viddeo nào đưa lên kèm lời giói thiệu thì thật thích.

Đặng Thiên Sơn

Gui anh

Vào thăm anh và để lại lời bình. Bài viết phàn nào đã giúp người đọc hiểu rõ hơn một chuyện tình. Khi nào anh chuyển cho em mấy thơ tình với nhé

À anh lưu lại blogs của em nhé!
Mới đó:
http://dangthiensonyt.wordpress.com

Đặng Thiên Sơn

GỬI ANH

Vào thăm anh và để lại lời bình. Bài viết phàn nào đã giúp người đọc hiểu rõ hơn một chuyện tình. Khi nào anh chuyển cho em mấy tấm nguyên tiêu với nhé

À anh lưu lại blogs của em nhé!
Mới đó:
http://dangthiensonyt.wordpress.com

bienman

Câu thơ này: "Đồi thi nhân chỉ lặng câm đứng nhìn…" hay là anh ngẩn ngơ cô nào hè? Đã quá ta! Có lẽ vậy mà có thơ phải không anh?
---
Hoa Khá iu.
Nắng rớt qua đồi nên ngẩn ngơ
Thi nhân tao ngộ ý mong chờ
Người đi người tiễn lòng man mác
Một chút tình không. Một chút tơ...
Vui nha

Hoa Khá

Trả lời

Em cảm ơn anh Gia Thiện ghé thăm và chia sẻ tình cảm yêu mến nghệ thuật tuồng. Những hình ảnh này em tâm đắc cũng như là bài viết của Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn.
Chúc anh nhiều niềm vui và sức khỏe nhé!